SBIO USA Technology 

PROBIOTIC SB

CÁC HOẠT ĐỘNG TỔNG HỢP TRONG MEN VI SINH MTA (SBIO)

Lactobacilius spp (L. acidophilus, L. plantarum), Bacillus subtilis và enzyme có lợi (Gồm Enzyme Protease, En amylase, En cellulase, En xylanase, Lipase, En Phytas, En Pectinase, Hemicellulose) và cung cấp các dưỡng chất phát triển cần thiết như vitamin, acid béo, acid amin,..

Enzyme Amylaz, Invertaz, Maltoz, Proteaz, Cataz, phân giải tinh bột, protein thành đường acid amin. Các thành phần acid amin, peptit (đạm tiêu hoá), các chất thơm (ester thơm), chất béo, NaCl, acid amin không thay thế, giúp vật nuôi ăn ngon miệng, dễ tiêu hoá, giàu dinh dưỡng.

Polyphenols, polysaccharides và thực vật giúp điều hoà miễn dịch, chống vi khuẩn. Chuyển hoá hữu ích cho vật nuôi, có hoạt tính dược lý, khi đưa vào cơ thể vật nuôi. Góp phần bảo quản thức ăn, kháng một số vi khuẩn bệnh, có tác dụng dập tắt các quá trình tạo ra gốc tự do gây bệnh. Có hoạt tính Vitamin P làm tăng tính bền mao mạch, tăng sức đề kháng và hạn chế phát sinh bệnh.

Các Polysaccharide gồm Cellulose, beta-glucan là các chất chứa cầu nối beta-1,4 glucoside, các chất này làm tăng độ nhớt trong ruột, cản trở tế bào vách ruột hấp thụ các chất dinh dưỡng. Các chất này có trong vách tế bào thực vật, ngăn trở các enzyme nội sinh tiếp cận với các chất dinh dưỡng như protein, tinh bột và lipid có trong bào chất, từ đó cản trở sự tiêu hoá hấp thụ các chất dinh dưỡng này. Bổ sung beta-glucanase trực tiếp vào thức ăn cho phép tăng khả năng hấp thụ và thuyển hoá thức ăn vật nuôi.

Aspergillus oryzae

Tiết ra enzyme như Protease, Amylase, Cellulase, Phytase, Xylanase, Hemicellulase.

Protease giúp hấp thu tốt các thành phần dinh dưỡng, làm tăng khả năng tiêu hoá của protein nên đặc biệt có lợi cho vật nuôi mắc bệnh tiêu hoá kém. Giữ được hoạt tính với nhiệt độ cao trong quá trình ép viên, sản xuất thành các hạt.

Trong sản xuất giúp nâng cao giá trị thương phẩm của nguyên liệu, khắc phục khiếm khuyết tự nhiên của nguyên liệu. Tham gia các giai đoạn chuyển hoá chính, các giai đoạn hoàn thiện sản phẩm, để làm tăng đáng kể chất lượng cảm quan của sản phẩm. Nếu không có sự có mặt của protease thì quá trình chế biến không thành công.

Amylase tham gia phân giải tinh bột thành đường, giúp quá trình chuyển hoá tinh bột, có vai trò tiêu hoá các chất dinh dưỡng giúp vật nuôi hấp thụ thức ăn tốt hơn, tăng năng suất vật nuôi. Trong tinh bột thuỷ phân, alpha-amylase ngẫu nhiên sẽ tách polyme tinh bột để oligosaccharides trọng lượng phân tử thấp và cuối cùng sản xuất maltotriose và maltose từ amylose và alpha hạn dextrin, maltose và glucose từ amylopectin. Thông qua hoạt động thuỷ phân của nó, bổ sung alpha-amylase hỗ trợ tăng cường tăng trưởng, làm tăng butyrate như một nguồn năng lượng và giảm tỷ lệ mol propionate.

Cellulase phân giải các nguồn thức ăn giàu Cellulose tạo ra sinh khối protein chứa hàm lượng các amino acid cân đối, các vitamin và tạo hương thơm có lợi cho tiêu hoá vật nuôi. Bổ sung Cellulase sẽ tăng sự tiêu hoá và kích thích hấp thụ thức ăn cho vật nuôi, do đó sẽ làm giảm chi phí thức ăn và tăng trọng nhanh hơn.

Trong nguyên liệu thức ăn vật nuôi có chứa hàm lượng lớn chất xơ, để tăng hiệu quả sử dụng năng lượng từ nguồn thức ăn này cần phải bổ sung thêm lượng enzyme cellulase. Enzyme này tham gia phân giải các chất xơ, tinh bột thành đường, các sản phẩm hoà tan, giúp quá trình chuyển hoá tốt hơn.

Phytase là enzyme phân giải phytate khó tan, bổ sung vào thức ăn vật nuôi nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn và làm giảm nguy cơ môi trường do hàm lượng phosphate. Các động vật dạ dày đơn chỉ tiêu hoá một phần acid phytic còn phần lớn bài tiết ra ngoài, gây ô nhiễm phosphophytate trong môi trường. Phytase thuỷ phân acide phytic, là dạng dự trữ phospho, thuỷ phân protein thành các peptide phân tử thấp, dễ tiêu hoá. Lợi ích Phytase: Tăng giá trị dinh dưỡng của thức ăn, giảm tác dụng kháng dinh dưỡng của acid phytic, giảm ô nhiễm môi trường.

Xylanase giải phóng các chất dinh dưỡng bị giữ lại và tạo ra prebiotic, điều này phytase không làm được. Xylanase mở ra các tế bào nội nhũ và men nội bào giàu chất arabinoxylan và ngũ cốc để giải phóng các chất dinh dưỡng bị bẫy, đồng thời giải phóng xylo-oligosaccharides. Làm tăng khả năng tiêu hoá protein và điều này được cho là đặc biệt đối với việc giải phóng protein từ lớp tế bào aleurone dày thành tế bào giàu tế bào.

Hemicellulase có các thành phần quan trọng như Endo-1, 4-beta-xylanase là enzyme thuộc họ glycoside hydrolase 11. Bổ sung vào thức ăn làm giảm độ nhớt, giúp vật nuôi tiêu hoá và hấp thụ dinh dưỡng tốt hơn, cải thiện hệ vi sinh vật đường ruột theo hướng có lợi, đồng thời làm giảm lượng phân thải ra gây ô nhiễm môi trường.

Saccharomyces cerevisiae

Chứa nhiều khuẩn có lợi cho đường ruột cũng như hệ tiêu hoá. Có tác dụng biến đổi các chất xơ từ thức ăn ở ruột non thành các loại acid lactic, acid amin, vitamin…

Quấ trình lên men làm thức ăn được tiêu hoá và hấp thụ hoàn toàn. Probiotic trong men có khả năng sản xuất bacteriocins, siderophores, enzyme (lysozymes, protease) và hydrogen peroxide, cũng như sự thay đổi của pH đường ruột do sự tạo ra các acid hữu cơ, tăng cường hệ miễn dịch,sinh ra các hợp chất hoá học có tác dụng diệt khuẩn gây ức chế sự phát triển của các vi khuẩn gây bệnh có hại. Tựa như việc tạo hàng rào để ngăn chặn các vi khuẩn gây bệnh. Nhờ đó mà đường ruột trở nên khoẻ mạnh và hoạt động tốt.

Trong quá trình sinh trưởng, lợi khuẩn bào tử Saccharomyces tạo ra môi trường hiếm khí, kích thích sự phát triển của các vi sinh vật có lợi khác, giúp các vi khuẩn này sản sinh ra các chất chống lại vi khuẩn gây bệnh. Đồng thời cân bằng hệ vi sinh đường ruột, có thể gắn kết vi khuẩn hình roi có hại và đẩy các vi khuẩn này ra khỏi niêm mạc ruột. Cơ quan thụ cảm mannose trên nấmmen sẽ đóng vai trò gắn kết.

Sản sinh enzyme hỗ trợ tiêu hoá thức ăn, giúp vật nuôi tăng trưởng đều nhờ chuyển hoá và hấp thu dinh dưỡng tốt, tránh lãng phí thức ăn do không tiêu hoá hết bị thải ra ngoài. Hệ tiêu hoá khoẻ mạnh hơn nhờ được hộ trợ tiêu hoá nhanh hơn. Nâng cao hiệu suất tiêu thụ thức ăn, tăng trọng nhanh.

Khả năng kết dính và xâm chiếm bề mặt niêm bạc ruột với vi khuẩn có hại như Enterococccus durans, Escherichia coli, Micrococcus luteus and Pseudomonas aeroginosa, E. Coli, salmonella, … tạo ra cơ chế bảo vệ chống lại mầm bệnh qua việc cạnh tranh vị trí bám với vi khuẩn gây bệnh, làm mất vị trí bám trên niêm mạc ruột của vi khuẩn gây bệnh, đào thải vi khuẩn đường ruột ra ngoài cùn chất thải khi kết nối với vi khuẩn có hại.

Các chất dẫn xuất nhất định như polysaccharides, lipoproteins, nucleotides and beta-glucans có khả năng làm tăng bạch huyết cầu bằng cách kích hoạt đại thực bào. Kích thích hệ miễn dịch của vật nuôi.

Hấp thụ oxi có trong dạ dày nhằm phát triển các vi khuẩn hiếm khi có lợi. Đồng thời ức chế sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh. Thích ứng với môi trường pH thấp của dạ dày cũng với một số dịch trong hệ tiêu hoá. Có khả năng hấp thu chất độ hại do vi khuẩn gây bệnh tiết ra trong đường ruột vật nuôi.

Bacillus spp

Tổng hợp nhiều chất có hoạt tính sinh học có lợi cho cơ thể như các enzym thuỷ phân, các vitamin, acid amin … làm cho pH ở ruột ổn định, hạn chế sự phát triển của vi khuẩn sinh hơi và vi khuẩn gây bệnh. Cung cấp ngay cho cơ thể một số men cần thiết, làm cho tiêu hoá trở lại bình thường trong khi hệ vi khuẩn ở ruột chưa lập lại trạng thái cân bằng. Bào tử bền nhiệt với độ tinh khiết 100%. Tạo bào tử trong điều kiện môi trường bất lợi như hạn hán, độ mặn, bức xạ cực cao, pH và dung môi, môi trường nghèo dinh dưỡng.

Trong đó, Enzym amylase và protease sản sinh các enzyme có khả năng thuỷ phân glucid, lipid, protid, enzyme cellulase biến đổi chất xơ thành các loại đường dễ tiêu, lecitinase thuỷ phân các chất béo phức hợp, enzyme phân giải gelatin, enzyme phân giải fibrin và một loại enzyme giống lysozyme gây tác dụng trực tiếp dung giải một số vi khoản Proteus gây bệnh trong đường ruột.

Tổng hợp một số chất tự nhiên như Bacitracin, Bacilysin, Baxilomicin (A, B, C, R), Bacillopectin, Mycobacillin, Subtilin (A, B, C), Prolimicin… có tác dụng ức chế sinh trưởng hoặc tiêu diệt một số vi sinh vật khác, tác dụng lên cả vi khuẩn gram âm lẫn gram dương, nấm gây bệnh. Các loại vitamin D và vitamin K2 ổn định hệ vi sinh vật đường ruột, tăng cường chức năng tiêu hoá, hấp thu thức ăn.

Trong điều kiện tự nhiên, môi trường kỵ khí làm quá trình oxy hoá các chất hữu cơ dẫn đến quá trình phân huỷ chậm và không hoàn toàn, lúc này tích luỹ nhiều acid hữu cơ, rượu, H2S và các dẫn suất của nó có tính độc như diamin, indon, tomain, scaton. Tuy nhiên với khả năng thích nghi và sinh trưởng tốt trong môi trường kỵ khí các chủng bacillus spp vẫn tiết ra các enzyme đặc hiệu giúp cho quá trình phân giải các chất diễn ra nhanh hơn, từ đó làm giảm bớt lượng khí H2S và các độc tố tích tụ. Chúng tiết ra chất kết dính gelatin để gắn kết với nhau và gắn kết với giá thể trong môi trường. Đó là một đặc tính của vi sinh vật để hình thành sinh khối, đồng thời để dễ dàng sử dụng lượng hữu cơ hoà tan có trong môi trường chúng sử dụng gelatin để bám dính các phân tử hữu cơ hoà tan lại với nhàu hình thành mảng thức ăn.

Lactobacillius

Sản xuất các chất ức chế như các acid béo chuỗi ngắn và các chất kháng khuẩn khác nhờ việc tạo nên môi trường giàu acid lactic và hydrogen peroxide, làm giảm nồng độ pH đường tiêu hoá, tuy nhiên không làm hại tới các lợi khuẩn khác.

Tác dụng lợi khuẩn Bào tử lactobacillus giúp tăng sinh nhanh chóng trong chính môi trường giàu acid mà chúng tạo ra, từ đó tạo nên rào cản cho việc sinh sản của các vi sinh vật khác. Ức chế vi sinh vật gây bệnh hoặc ngăn chặn chúng bám vào màng nhầy ruột nhờ sự tăng sinh nhanh chóng của vi khuẩn lactic tạo thành rào cản chống lại vi sinh vật khác trong ruột.

Tác dụng lactobacillus tương tự như một số chủng vi khuẩn khác tồn tại trong đường ruột vật nuôi đó là khả năng kích thích khả năng miễn dịch cho vật nuôi, hệ miễn dịch được tăng cường, vật nuôi có thể tự chống lại một số bệnh tật phổ biến dễ mắc phải khi thời tiết, điều kiện sống thay đổi.

Acid mật trong quá trình chuyển hoá có sự tác động của lợi khuẩn bào tử lactobacillus sẽ được thúc đẩy thêm, hỗ trợ việc hấp thu chất béo cho vật nuôi, đồng thời cải thiện đáng kể khả năng hấp thụ các dưỡng chất, dinh dưỡng khác.

Đa phần các vi sinh vật lactobacillus sinh trưởng trong nhiệt độ từ 37 đến 40 độ C, đây là điều kiện lý tưởng để lactobacillus tăng sinh khi được đưa vào đường ruột vật nuôi. Ở nhiệt độ phòng, lactobacillus ít hoạt động, chính vì vậy rất dễ bảo quản.

CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ SBIO VIỆT NAM

Địa chỉ: 59 Trần Quang Diệu, Phường 14, Quận 3, TP.HCM

VP: 19 Đường số 5, KDC Trung Sơn, Bình Hưng, Bình Chánh

Điện thoại: 028.363607220937.080.985 0907004770

Email: sbiovietnam@gmail.com

www.sbio.com.vn